Nhiều doanh nghiệp hiện nay rơi vào tình trạng góp vốn trên giấy do đăng ký vốn điều lệ không đúng thực tế. Hành vi này không chỉ dẫn đến rủi ro bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn gây tranh chấp nội bộ và nguy cơ vô hiệu các giao dịch kinh doanh. Dựa trên quy định của Luật Doanh nghiệp 2020, bài viết sẽ giải đáp thắc mắc về các rủi ro pháp lý phát sinh và hướng dẫn doanh nghiệp cách khắc phục sai sót trong quá trình góp vốn.
1. Góp vốn không đúng thực tế là gì?
Góp vốn không đúng thực tế là việc thành viên hoặc cổ đông chỉ ghi nhận phần vốn góp trên các hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp như Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, điều lệ công ty hoặc sổ đăng ký thành viên, nhưng không thực hiện việc chuyển giao tài sản góp vốn trên thực tế, hoặc chỉ góp một phần so với mức vốn đã cam kết.
Theo pháp luật doanh nghiệp, vốn điều lệ không phải là con số hình thức, mà là căn cứ xác lập:
- Mức độ chịu trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nghĩa vụ tài chính;
- Phạm vi trách nhiệm của từng thành viên, cổ đông;
- Niềm tin pháp lý của đối tác, chủ nợ khi giao kết hợp đồng.
Việc khai vốn cao nhưng không góp vốn thực tế làm mất sự tương thích giữa hồ sơ pháp lý và năng lực tài chính thật, từ đó phát sinh hàng loạt hệ quả pháp lý bất lợi.

2. Nghĩa vụ góp vốn theo Luật Doanh nghiệp
Theo Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020, đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên:
- Thành viên phải góp đủ và đúng loại tài sản đã cam kết;
- Thời hạn góp vốn là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp;
- Trong thời hạn này, thành viên có đầy đủ quyền và nghĩa vụ tương ứng với phần vốn cam kết.
Đối với công ty cổ phần, Điều 113 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định:
- Cổ đông sáng lập phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày;
- Việc thanh toán phải được thực hiện bằng tài sản hợp pháp và có căn cứ chứng minh.
Như vậy, pháp luật không công nhận việc góp vốn mang tính hình thức, không có tài sản thực tế chuyển giao.

3. Hậu quả pháp lý khi không góp đủ vốn điều lệ
Theo khoản 3 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020, thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ vốn:
- Không còn quyền tương ứng với phần vốn chưa góp;
- Không được hưởng lợi ích phát sinh từ phần vốn đó.
Quy định này thể hiện nguyên tắc xuyên suốt của pháp luật doanh nghiệp: quyền chỉ phát sinh khi nghĩa vụ đã được thực hiện. Do đó, việc ghi nhận tỷ lệ vốn góp trên điều lệ hoặc hồ sơ đăng ký doanh nghiệp không làm phát sinh quyền hợp pháp nếu không có tài sản góp vốn thực tế. Trong thực tiễn tranh chấp, đây là căn cứ để Tòa án loại bỏ quyền biểu quyết, quyền hưởng lợi nhuận hoặc quyền quản lý của thành viên chỉ “đứng tên vốn”.
3.1 Trách nhiệm tài chính về phần vốn thực góp
Luật Doanh nghiệp quy định rõ thành viên chưa góp hoặc chưa góp đủ vốn phải chịu trách nhiệm tương ứng với phần vốn đã cam kết góp đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời gian chưa góp đủ vốn theo khoản 4 Điều 47 Luật Doanh nghiệp năm 2020. Đồng nghĩa với:
- Việc chưa thực tế góp vốn không làm phát sinh quyền miễn trừ trách nhiệm cho thành viên;
- Thành viên vẫn phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian chưa góp đủ vốn;
- Trong trường hợp cần thiết, thành viên có thể bị yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bằng tài sản riêng tương ứng với phần vốn đã cam kết góp.
Đây là rủi ro đặc biệt nghiêm trọng, bởi trên thực tế, thành viên có thể bị yêu cầu chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân, làm “xuyên thủng” cơ chế trách nhiệm hữu hạn.
3.2 Rủi ro trong quan hệ hợp đồng và tín dụng
Trong trường hợp đối tác chứng minh được việc ký kết hợp đồng dựa trên niềm tin sai lệch về vốn điều lệ, họ có thể:
- Yêu cầu doanh nghiệp bồi thường thiệt hại phát sinh do việc cung cấp thông tin không trung thực về năng lực tài chính;
- Yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu do bị lừa dối theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Trường hợp có căn cứ xác định lỗi của cá nhân liên quan, có thể yêu cầu người đại diện theo pháp luật hoặc thành viên vi phạm chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự.
3.3 Rủi ro pháp lý đối với chủ doanh nghiệp
Góp vốn không đúng thực tế là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các tranh chấp sau:
- Tranh chấp về quyền biểu quyết, quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp;
- Tranh chấp về việc phân chia lợi nhuận và phân bổ nghĩa vụ tài chính giữa các thành viên, cổ đông;
- Khiếu kiện liên quan đến trách nhiệm bồi hoàn các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp phát sinh trong thời gian chưa góp đủ vốn.
Trong nhiều trường hợp, do việc góp vốn ban đầu không được thực hiện đúng quy định của pháp luật, các thỏa thuận nội bộ liên quan đến vốn góp, quyền và nghĩa vụ của các bên có thể bị tuyên vô hiệu, làm phát sinh rủi ro pháp lý nghiêm trọng cho doanh nghiệp và các thành viên liên quan.
3.4 Trách nhiệm của người đại diện theo pháp luật
Theo Điều 12 và Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2020, người đại diện theo pháp luật có nghĩa vụ:
- Thực hiện quyền và nghĩa vụ trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp;
- Bảo đảm tính trung thực, chính xác của các thông tin về doanh nghiệp được cung cấp cho cơ quan nhà nước và bên thứ ba;
- Không thực hiện hành vi gây thiệt hại cho doanh nghiệp, chủ nợ hoặc các bên liên quan khác.
Trường hợp người đại diện theo pháp luật biết rõ việc doanh nghiệp không góp đủ vốn điều lệ nhưng vẫn:
- Không thực hiện thủ tục đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ theo quy định;
- Ký kết, thực hiện các giao dịch vượt quá khả năng tài chính thực tế của doanh nghiệp,
Trong trường hợp đó, người đại diện theo pháp luật có thể bị xác định là phải chịu trách nhiệm cá nhân, bao gồm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh theo quy định của pháp luật có liên quan.
4. Xử phạt vi phạm hành chính
Theo Nghị định số 122/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư, hành vi góp vốn điều lệ không đúng phần đã cam kết có thể bị xử phạt theo các căn cứ sau:
- Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với hành vi không công bố hoặc công bố không đúng hạn nội dung đăng ký doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp (Điều 45);
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi góp vốn thành lập doanh nghiệp hoặc đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp không đúng hình thức theo quy định (điểm a khoản 2 Điều 46);
- Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ hoặc thay đổi thành viên, cổ đông sáng lập sau khi đã hết thời hạn góp vốn theo quy định (điểm a khoản 3 Điều 46);
- Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi kê khai khống vốn điều lệ, tùy theo giá trị vốn kê khai không đúng (Điều 47);
- Buộc đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ bằng số vốn thực góp và thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định (khoản 6 Điều 47 và khoản 5 Điều 46).
Như vậy, việc góp vốn không đúng thực tế không chỉ vi phạm nghĩa vụ góp vốn theo Luật Doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn nguy cơ bị xử phạt hành chính ở nhiều mức độ, kèm theo nghĩa vụ buộc điều chỉnh vốn điều lệ và khắc phục hậu quả, làm phát sinh rủi ro pháp lý trực tiếp cho doanh nghiệp và người quản lý.
4. Giải pháp pháp lý hạn chế rủi ro
- Đăng ký vốn điều lệ phù hợp với khả năng tài chính thực tế của các thành viên, cổ đông, tránh việc đăng ký vốn quá cao chỉ mang tính hình thức hoặc phục vụ mục đích đối ngoại;
- Thực hiện việc góp vốn đúng thời hạn, đúng loại tài sản và đúng giá trị đã cam kết, đồng thời lưu giữ đầy đủ chứng từ, hồ sơ chứng minh việc góp vốn như chứng từ chuyển tiền, biên bản góp vốn, biên bản định giá tài sản góp vốn;
- Rà soát, cập nhật định kỳ sổ đăng ký thành viên, sổ đăng ký cổ đông, bảo đảm thông tin về tỷ lệ sở hữu, quyền và nghĩa vụ của các bên phản ánh đúng tình trạng vốn thực góp;
- Kịp thời thực hiện thủ tục đăng ký điều chỉnh vốn điều lệ trong trường hợp không góp đủ vốn theo cam kết hoặc có sự thay đổi về thành viên, cổ đông, nhằm bảo đảm tính trung thực của hồ sơ đăng ký doanh nghiệp;
- Chủ động tham vấn luật sư khi thực hiện các giao dịch liên quan đến tái cấu trúc vốn, thay đổi thành viên, cổ đông hoặc chuyển nhượng phần vốn góp, nhằm đánh giá trước rủi ro và bảo vệ an toàn pháp lý cho doanh nghiệp và người quản lý.
Việc tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ góp vốn ngay từ giai đoạn thành lập và trong suốt quá trình hoạt động là yếu tố then chốt giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro pháp lý, bảo vệ cơ chế trách nhiệm hữu hạn và hạn chế các tranh chấp, xử phạt phát sinh trong thực tiễn.
5. Kết luận pháp lý
Góp vốn không đúng nội dung đã cam kết là rủi ro pháp lý nghiêm trọng có thể dẫn đến các hệ quả sau:
- Làm mất cơ chế trách nhiệm hữu hạn, khi chủ doanh nghiệp hoặc thành viên có thể bị yêu cầu chịu trách nhiệm vượt quá phần vốn đã thực góp;
- Phát sinh trách nhiệm tài sản cá nhân, buộc thành viên, cổ đông hoặc người quản lý phải dùng tài sản riêng để thực hiện các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp;
- Gia tăng nguy cơ tranh chấp và bị xử phạt, bao gồm tranh chấp nội bộ, tranh chấp với đối tác, chủ nợ và các chế tài hành chính theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp doanh nghiệp cần rà soát tình trạng góp vốn, đánh giá rủi ro pháp lý hoặc thực hiện điều chỉnh vốn điều lệ, việc tham vấn đơn vị tư vấn pháp lý có kinh nghiệm là giải pháp cần thiết để bảo đảm tuân thủ pháp luật và hạn chế tranh chấp phát sinh. Công ty Luật TNHH MV sẵn sàng đồng hành, hỗ trợ doanh nghiệp trong các vấn đề pháp lý liên quan đến góp vốn và quản trị vốn doanh nghiệp.
Căn cứ pháp lý
Luật doanh nghiệp 2020 sửa đổi bổ sung 2025.
Nghị định số 122/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư.




