Trang chủ

Tin tức

Tìm hiểu về tầm nhìn, sứ mệnh lịch sử và hệ giá trị cốt lõi tạo dựng nên niềm tin vững chắc của Công ty Luật TNHH MV.

LY HÔN ĐƠN PHƯƠNG VỚI NGƯỜI ĐANG CHẤP HÀNH ÁN PHẠT TÙ: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VÀ THỦ TỤC THỰC HIỆN

Việc một bên vợ hoặc chồng đang chấp hành án phạt tù không làm chấm dứt quan hệ hôn nhân và cũng không làm mất quyền yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, do đặc thù của việc chấp hành án tại cơ sở giam giữ nên thủ tục giải quyết ly hôn sẽ có một số điểm khác so với các vụ án ly hôn thông thường.

1. Có được đơn phương ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù không?

Theo khoản 14 Điều 3 Luật Thi hành án hình sự năm 2019, người chấp hành án phạt tù là người đang thực hiện hình phạt tù theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Mặc dù trong thời gian chấp hành án phạt tù, người bị kết án bị hạn chế một số quyền công dân theo quy định của pháp luật, nhưng pháp luật không hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của họ hoặc của người còn lại trong quan hệ hôn nhân.

Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định:

  • Vợ, chồng hoặc cả hai đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
  • Cha, mẹ hoặc người thân thích khác chỉ được yêu cầu ly hôn trong trường hợp một bên mất khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và là nạn nhân của bạo lực gia đình.
  • Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, ngoài trường hợp pháp luật hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng nêu trên, không có quy định nào cấm hoặc hạn chế việc ly hôn đối với người đang chấp hành án phạt tù.

Do đó:

  • Người đang chấp hành án phạt tù vẫn có quyền yêu cầu ly hôn.
  • Vợ hoặc chồng của người đang chấp hành án phạt tù cũng có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương nếu có căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

2. Thủ tục đơn phương ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù

2.1. Hồ sơ cần chuẩn bị

Hồ sơ khởi kiện ly hôn đơn phương gồm:

  • Đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn theo mẫu của Tòa án;
  • Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn (nếu mất phải xin bản sao hoặc trích lục);
  • Bản sao có chứng thực Căn cước công dân hoặc hộ chiếu của vợ, chồng;
  • Giấy xác nhận thông tin cư trú hoặc tài liệu chứng minh nơi cư trú của bị đơn (nếu có);
  • Bản sao giấy khai sinh của con chung (nếu có);
  • Tài liệu, chứng cứ về tài sản chung, nợ chung (nếu yêu cầu giải quyết);
  • Giấy xác nhận của trại giam nơi người kia đang chấp hành hình phạt tù (thể hiện rõ thông tin cá nhân, thời gian chấp hành án).
  • Bản án hình sự, quyết định thi hành án hoặc văn bản xác nhận việc một bên đang chấp hành án phạt tù (nếu có).

2.2. Tòa án có thẩm quyền giải quyết

Theo quy định tại điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

“Tòa án nơi bị đơn cư trú , làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;” 

Theo đó, đối với trường hợp đơn phương ly hôn với người đang chấp hành án phạt tù, người yêu cầu ly hôn có thể nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền nơi người đang chấp hành án phạt tù hoặc Tòa án nơi người đó cư trú trước khi chấp hành án, tùy theo từng trường hợp cụ thể và thực tiễn giải quyết của Tòa án.

Do đó, nếu người chồng đang chấp hành án phạt tù thì người vợ có thể nộp đơn xin ly hôn đơn phương tại Tòa án nơi người chồng đang chấp hành án hoặc Tòa án nơi người chồng cư trú trước khi chấp hành án để được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

2.3. Quá trình giải quyết vụ án

Sau khi hồ sơ hợp lệ và người khởi kiện hoàn thành nghĩa vụ tạm ứng án phí, Tòa án sẽ ra thông báo thụ lý vụ án.

Trong quá trình giải quyết:

  • Tòa án sẽ gửi các văn bản tố tụng cho người đang chấp hành án thông qua cơ sở giam giữ.
  • Tòa án có thể trực tiếp lấy lời khai hoặc ủy thác thu thập lời khai của người đang chấp hành án.
  • Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Trường hợp không thể tiến hành hòa giải do điều kiện khách quan hoặc thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử theo quy định.

Nếu người đang chấp hành án không thể tham gia phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc thuộc trường hợp được xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn có thể tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

3. Một số vấn đề cần lưu ý

3.1. Án phí ly hôn

Theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14:

  • Án phí sơ thẩm đối với vụ án ly hôn không có tranh chấp về tài sản là 300.000 đồng.
  • Trường hợp có tranh chấp về tài sản, án phí được tính theo giá trị tài sản tranh chấp theo biểu mức án phí do Nghị quyết quy định.

3.2. Quyền nuôi con

Khi giải quyết ly hôn, Tòa án quyết định người trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền và lợi ích mọi mặt của con.

Trên thực tế, người đang chấp hành án phạt tù thường không có điều kiện trực tiếp chăm sóc, giáo dục con nên khả năng được giao quyền nuôi con là rất hạn chế. Tuy nhiên, sau khi chấp hành xong hình phạt tù, họ vẫn có quyền thăm nom, chăm sóc con theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp bị Tòa án hạn chế quyền này.

3.3. Chia tài sản chung

Việc chia tài sản chung của vợ chồng được thực hiện theo nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Việc một bên đang chấp hành án phạt tù không làm mất quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp của họ. Nếu hồ sơ, chứng cứ chưa đầy đủ hoặc việc giải quyết tài sản gặp trở ngại, Tòa án có thể tách yêu cầu chia tài sản để giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Kết luận

Người đang chấp hành án phạt tù vẫn là chủ thể có quyền và nghĩa vụ trong quan hệ hôn nhân. Vì vậy, vợ hoặc chồng hoàn toàn có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương nếu có căn cứ chứng minh hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được theo Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Để quá trình giải quyết diễn ra thuận lợi, người yêu cầu ly hôn cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, xác định đúng Tòa án có thẩm quyền và cung cấp các tài liệu liên quan đến việc chấp hành án của bị đơn. Đối với những vụ án có tranh chấp về tài sản, quyền nuôi con hoặc phát sinh nhiều tình tiết phức tạp, việc tham khảo ý kiến luật sư sẽ giúp bảo đảm tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.