Không có giấy phép lái xe gây tai nạn bị xử lý ra sao?
Điều khiển ô tô, xe máy khi chưa có giấy phép lái xe phù hợp là hành vi vi phạm pháp luật. Nếu người điều khiển còn gây tai nạn, trách nhiệm pháp lý sẽ không chỉ dừng lại ở lỗi không có giấy phép mà còn phụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ thiệt hại và mối quan hệ giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra.
Không có giấy phép lái xe có được điều khiển phương tiện không?

Người điều khiển phương tiện phải đáp ứng điều kiện về độ tuổi, sức khỏe và có giấy phép lái xe phù hợp với loại phương tiện mà mình điều khiển, trừ phương tiện pháp luật không yêu cầu giấy phép. Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024 nghiêm cấm việc điều khiển xe cơ giới tham gia giao thông khi không có giấy phép lái xe theo quy định.
“Không có giấy phép lái xe” không chỉ được hiểu là chưa từng được cấp giấy phép. Trong một số trường hợp, người điều khiển phương tiện không có giấy phép phù hợp với loại xe đang sử dụng, đang trong thời gian bị tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đang bị cấm điều khiển phương tiện cũng có thể bị xem xét thuộc trường hợp không có giấy phép lái xe theo quy định.
Cần phân biệt trường hợp không có giấy phép lái xe với việc có giấy phép hợp lệ nhưng tại thời điểm kiểm tra không mang theo hoặc chưa xuất trình được. Đây là các hành vi có bản chất và mức xử lý khác nhau.
Không có giấy phép lái xe gây tai nạn bị xử lý ra sao?
Người không có giấy phép lái xe gây tai nạn có thể đồng thời phải chịu ba loại trách nhiệm gồm xử phạt hành chính, bồi thường thiệt hại và trách nhiệm hình sự.
Việc không có giấy phép lái xe chưa đủ để khẳng định người điều khiển phải chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan có thẩm quyền phải xác định người đó có vi phạm quy tắc giao thông hay không, hành vi vi phạm có phải nguyên nhân gây tai nạn không và hậu quả đã đạt mức truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa.
Ví dụ, một người không có giấy phép lái xe đang dừng đúng quy định nhưng bị phương tiện khác đâm vào thì không thể chỉ căn cứ việc không có giấy phép để kết luận họ gây ra tai nạn. Ngược lại, nếu người đó lái xe sai làn đường, vượt ẩu, không làm chủ tốc độ và gây hậu quả nghiêm trọng thì có thể bị khởi tố.
Không có giấy phép lái xe gây tai nạn có bị phạt hành chính không?
Trường hợp vụ tai nạn chưa đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, người điều khiển phương tiện có thể bị xử phạt đối với hành vi không có giấy phép lái xe và hành vi vi phạm quy tắc giao thông dẫn đến tai nạn.
Theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, mức phạt đối với lỗi không có giấy phép lái xe được xác định theo loại phương tiện. Người điều khiển xe mô tô có dung tích xi-lanh đến 125 cm³ hoặc công suất động cơ điện đến 11 kW không có giấy phép phù hợp có thể bị phạt từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng. Với xe mô tô trên 125 cm³ hoặc công suất trên 11 kW, mức phạt có thể từ 6 triệu đồng đến 8 triệu đồng. Người điều khiển ô tô không có giấy phép lái xe có thể bị phạt từ 18 triệu đồng đến 20 triệu đồng.
Ngoài lỗi không có giấy phép, người điều khiển còn có thể bị xử phạt về hành vi trực tiếp gây tai nạn như không chú ý quan sát, không giảm tốc độ, đi sai làn đường, không giữ khoảng cách, vượt xe hoặc chuyển hướng không đúng quy định. Chẳng hạn, một số hành vi vi phạm của người điều khiển xe máy gây tai nạn có mức phạt từ 10 triệu đồng đến 14 triệu đồng theo Nghị định số 168/2024/NĐ-CP.
Tuy nhiên, nếu hành vi đã bị khởi tố hình sự thì người thực hiện không bị xử phạt hành chính đối với chính hành vi đã cấu thành tội phạm.
Khi nào người gây tai nạn bị truy cứu trách nhiệm hình sự?
Người điều khiển phương tiện có thể bị truy cứu về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo Điều 260 Bộ luật Hình sự nếu có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông và gây ra một trong các hậu quả sau:
Người vi phạm làm chết một người; gây thương tích cho một người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; gây thương tích cho từ hai người trở lên với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% đến 121%; hoặc gây thiệt hại về tài sản từ 100 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng.
Ở khung cơ bản, người phạm tội có thể bị phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 1 năm đến 5 năm. Việc khởi tố phải dựa trên cả hành vi vi phạm, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi đó với vụ tai nạn.
Không có giấy phép nhưng tai nạn không nghiêm trọng có bị đi tù không?

Nếu vụ tai nạn chỉ gây thiệt hại nhỏ, chưa đạt mức hậu quả quy định tại Điều 260 và không thuộc trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nhưng được ngăn chặn kịp thời, người điều khiển thường chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Trong trường hợp này, họ vẫn có thể bị xử phạt hành chính đối với lỗi không có giấy phép, lỗi vi phạm quy tắc giao thông và phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đã gây ra.
Do đó, việc “không có giấy phép” không tự động dẫn đến phạt tù. Đây chỉ trở thành tình tiết định khung hình sự khi người điều khiển có hành vi vi phạm giao thông, gây hậu quả đủ mức luật định và bị truy cứu theo Điều 260.
Giấy phép lái xe không phù hợp có được coi là không có giấy phép không?
Người được cấp giấy phép lái xe nhưng giấy phép đó không phù hợp với loại phương tiện đang điều khiển có nguy cơ bị xem là không có giấy phép lái xe theo quy định.
Ví dụ, người chỉ có giấy phép cho phép điều khiển xe mô tô thuộc phạm vi nhất định nhưng lại điều khiển loại xe yêu cầu hạng giấy phép cao hơn. Khi xảy ra tai nạn, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ kiểm tra hạng giấy phép, loại xe, dung tích xi-lanh hoặc công suất động cơ và hiệu lực của giấy phép để xác định tình tiết này.
Trường hợp giấy phép hết hạn, bị tước hoặc người lái đang bị cấm điều khiển phương tiện cũng phải được xem xét cụ thể. Không nên mặc nhiên cho rằng chỉ cần từng được cấp giấy phép thì không thuộc trường hợp “không có giấy phép lái xe theo quy định”.
Người gây tai nạn phải bồi thường những khoản nào?
Bên cạnh trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, người có lỗi gây tai nạn phải bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nếu nạn nhân bị thương, các khoản bồi thường có thể gồm chi phí hợp lý cho việc cấp cứu, điều trị và phục hồi sức khỏe; thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút; chi phí và thu nhập bị mất của người chăm sóc; cùng khoản bù đắp tổn thất tinh thần.
Nếu nạn nhân tử vong, người gây thiệt hại có thể phải thanh toán chi phí cứu chữa trước khi chết, chi phí mai táng hợp lý, tiền cấp dưỡng cho người mà nạn nhân có nghĩa vụ cấp dưỡng và khoản bù đắp tổn thất tinh thần cho người thân thích thuộc diện được hưởng.
Đối với tài sản, người gây tai nạn phải bồi thường giá trị tài sản bị mất, hư hỏng, chi phí sửa chữa và thiệt hại thực tế phát sinh do tài sản không thể sử dụng. Việc các bên đã thỏa thuận bồi thường có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ trong vụ án hình sự, nhưng không đương nhiên làm vụ án bị đình chỉ.
Bị hại có đơn xin giảm nhẹ thì người gây tai nạn có được miễn trách nhiệm không?
Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ không thuộc trường hợp chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của bị hại. Vì vậy, việc gia đình bị hại nhận tiền bồi thường, làm đơn xin giảm nhẹ hoặc đề nghị không xử lý hình sự không đương nhiên làm chấm dứt vụ án.
Tuy nhiên, việc tự nguyện cứu giúp người bị nạn, chủ động bồi thường, thành khẩn khai báo và được gia đình bị hại xin giảm nhẹ là những tình tiết có thể được Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt.
Khả năng được hưởng án treo còn phụ thuộc vào mức hình phạt được tuyên, nhân thân, số lượng tình tiết giảm nhẹ và việc người phạm tội có đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định hay không.
Kết luận
Người không có giấy phép lái xe gây tai nạn có thể bị xử phạt hành chính, buộc bồi thường hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu hành vi vi phạm gây hậu quả đủ mức tại Điều 260 Bộ luật Hình sự, việc không có giấy phép lái xe là tình tiết định khung và người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.
Tuy nhiên, không thể chỉ căn cứ vào việc không có giấy phép để quy kết trách nhiệm gây tai nạn. Cơ quan có thẩm quyền còn phải xác định lỗi vi phạm, nguyên nhân tai nạn, hậu quả và mối quan hệ nhân quả. Khi xảy ra vụ việc, người điều khiển cần cứu giúp người bị nạn, phối hợp giải quyết, chủ động bồi thường và không được bỏ trốn khỏi hiện trường.