Nhặt được tài sản nhưng không trả có phạm tội không? Quy định mới nhất theo pháp luật.
Nhặt được tiền, điện thoại, ví hoặc tài sản của người khác nhưng không trả lại có phạm tội không? Tìm hiểu quy định về nghĩa vụ trả lại tài sản và trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam.
Nhặt được tài sản nhưng không trả có phạm tội không?
Trong cuộc sống hằng ngày, không ít người từng rơi vào tình huống nhặt được ví tiền, điện thoại, trang sức hoặc các tài sản có giá trị do người khác đánh rơi. Có người chủ động tìm chủ sở hữu để trả lại, nhưng cũng có trường hợp giữ luôn tài sản với suy nghĩ rằng: "Nhặt được thì được quyền sở hữu."
Thực tế, đây là một quan niệm không đúng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc nhặt được tài sản của người khác không đồng nghĩa với việc được quyền chiếm hữu hoặc sử dụng tài sản đó. Trong một số trường hợp, nếu cố tình không trả lại tài sản sau khi đã có điều kiện xác định chủ sở hữu hoặc có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, người nhặt được tài sản có thể phải chịu trách nhiệm dân sự, xử phạt vi phạm hành chính hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Vậy pháp luật quy định như thế nào về trường hợp nhặt được tài sản?
Nhặt được tài sản có phải trả lại không?

Câu trả lời là Có.
Theo Điều 230 Bộ luật Dân sự năm 2015, người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi hoặc bỏ quên có nghĩa vụ thông báo hoặc trả lại cho chủ sở hữu. Nếu không xác định được chủ sở hữu thì phải giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan công an nơi gần nhất để thông báo công khai theo quy định.
Quy định này nhằm bảo đảm quyền sở hữu tài sản của công dân và tạo cơ sở pháp lý để người bị mất có cơ hội nhận lại tài sản của mình.
Như vậy, việc giữ lại tài sản nhặt được mà không thực hiện nghĩa vụ thông báo hoặc giao nộp theo quy định là hành vi không phù hợp với pháp luật.
Sau bao lâu thì người nhặt được có thể được sở hữu tài sản?
Nhiều người cho rằng chỉ cần giữ tài sản trong một thời gian là sẽ trở thành chủ sở hữu hợp pháp. Tuy nhiên, pháp luật quy định khá chặt chẽ về vấn đề này.
Theo Điều 230 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Sau 01 năm, kể từ ngày thông báo công khai về tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà không xác định được chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu không đến nhận thì quyền sở hữu đối với tài sản này được xác định như sau:
a) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bỏ quên có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì người nhặt được được xác lập quyền sở hữu đối với tài sản đó theo quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; trường hợp tài sản có giá trị lớn hơn mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định thì sau khi trừ chi phí bảo quản, người nhặt được được hưởng giá trị bằng mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định và 50% giá trị của phần vượt quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định, phần giá trị còn lại thuộc về Nhà nước;
b) Trường hợp tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên là tài sản thuộc di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của Luật di sản văn hóa thì tài sản đó thuộc về Nhà nước; người nhặt được tài sản được hưởng một khoản tiền thưởng theo quy định của pháp luật.
Điều này có nghĩa, người nhặt được không thể tự ý giữ lại và coi tài sản là của mình ngay từ thời điểm nhặt được.
Cố tình không trả tài sản nhặt được có phạm tội không?

Trong nhiều trường hợp, người nhặt được biết rõ tài sản thuộc về người khác hoặc đã được cơ quan có thẩm quyền, chủ sở hữu yêu cầu trả lại nhưng vẫn cố tình chiếm giữ.
Theo Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) về Tội chiếm giữ trái phép tài sản, người nào cố tình không trả lại tài sản trị giá từ 10 triệu đồng trở lên, hoặc dưới 10 triệu đồng nhưng là di vật, cổ vật, sau khi chủ sở hữu hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu nhận lại theo quy định thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Như vậy, không phải cứ nhặt được tài sản rồi không trả là mặc nhiên phạm tội. Tuy nhiên, nếu có đủ các dấu hiệu theo quy định của Bộ luật Hình sự, đặc biệt là hành vi cố tình chiếm giữ sau khi đã có yêu cầu trả lại, người vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.
Nếu đã sử dụng hoặc bán tài sản nhặt được thì sao?
Không ít trường hợp người nhặt được điện thoại, ví tiền hoặc tài sản có giá trị đã mang đi sử dụng, bán hoặc cầm cố.
Việc sử dụng hoặc định đoạt tài sản trong khi biết rõ đó là tài sản của người khác có thể được xem là căn cứ để đánh giá ý thức chiếm giữ trái phép tài sản. Tùy từng vụ việc cụ thể, người vi phạm có thể phải hoàn trả tài sản, bồi thường thiệt hại và bị xử lý theo quy định của pháp luật nếu đủ căn cứ.
Do đó, khi nhặt được tài sản, người dân không nên tự ý sử dụng hoặc chuyển nhượng tài sản trước khi hoàn tất các thủ tục theo quy định.
Người bị mất tài sản cần làm gì?
Khi phát hiện bị mất tài sản, người bị mất nên nhanh chóng:
- Liên hệ với nơi có khả năng làm rơi tài sản để tìm kiếm;
- Thông báo cho cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự việc;
- Chuẩn bị các tài liệu chứng minh quyền sở hữu như hóa đơn, giấy tờ mua bán, hình ảnh hoặc thông tin nhận dạng tài sản;
- Nếu xác định được người đang giữ tài sản nhưng họ không trả lại, có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu phạm tội.
Việc chủ động thông báo và cung cấp đầy đủ thông tin sẽ giúp tăng khả năng tìm lại tài sản cũng như bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Làm gì khi nhặt được tài sản của người khác?
Nếu nhặt được tài sản, người dân nên:
- Chủ động tìm cách liên hệ với chủ sở hữu nếu có thông tin.
- Trường hợp không xác định được chủ sở hữu, giao nộp tài sản cho cơ quan công an hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gần nhất.
- Lập biên bản giao nhận hoặc yêu cầu xác nhận việc giao nộp để bảo đảm quyền lợi của mình.
- Không tự ý sử dụng, bán, cầm cố hoặc hủy hoại tài sản.
Việc xử lý đúng quy định không chỉ thể hiện ý thức tôn trọng tài sản của người khác mà còn giúp người nhặt được tránh những rủi ro pháp lý không đáng có.
Nhặt được tài sản của người khác không đồng nghĩa với việc được quyền sở hữu tài sản đó. Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người nhặt được có nghĩa vụ thông báo hoặc giao nộp tài sản để tìm chủ sở hữu. Nếu cố tình không trả lại sau khi đã có yêu cầu hoặc đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, người vi phạm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Vì vậy, khi nhặt được tài sản, mỗi cá nhân nên lựa chọn cách xử lý đúng quy định của pháp luật để bảo vệ quyền lợi của người khác cũng như tránh những hậu quả pháp lý cho chính mình.